TTXCC

THÔNG TIN-TIN TỨC

-Giải mã về Tứ hành xung: Không thể phán xét một chiều

Posted by ttxcc on 19/05/2012


 Thứ Bảy gặp cái này mời Bà con ai thích thì xem bói- “Tý hư Sửu hao-Dần bât lợi” Chuột chạy hàng rào đàng nào cũng động.

19/05/2012 – Bee.net

– Quan điểm “hợp xung” rất động, nếu chỉ xem xét một chiều sẽ ảnh hưởng nhiều tới cuộc sống. Do đó, cần phải nghiên cứu kỹ và chi tiết mới nên xét đoán.

“Lợn” con có thể bú được “hổ”

ThS Vũ Đức Huynh, tác giả của hơn chục cuốn sách về tâm linh và cổ học phương Đông khẳng định, nếu lấy tứ hành xung để ngăn cản chuyện hôn nhân của con cái hay chọn đối tác làm ăn… là sai lệch, thiếu hiểu biết.

Vấn đề tứ hành xung được thời nhà Tống đề xuất trong môn tử vi và các đạo sĩ tướng số bói toán đã dựa vào đó để phát triển. Xung khắc là dựa vào thuyết ngũ hành, các hành đối chọi thì xung nhau. Dần – Thân – Tỵ – Hợi là tứ “sinh” và tứ vượng gồm: Dần sinh Mộc, Mão vượng Mộc, Tỵ sinh Hỏa, Ngọ vượng Hỏa, Thân sinh Kim, Dậu vượng kim…

Tuy nhiên, phải tùy theo tiềm lực của từng hành, mỗi năm có một hành riêng và tính chất của hành đó có đủ sức lực để tác động hay không. Chẳng hạn, người ta vẫn nói hổ và lợn khắc nhau nhưng nếu vợ chồng, hoặc con một người tuổi Tân Hợi (lợn con) một người khác tuổi hổ thì không thể khắc được hợi bởi lợn con còn bé, các con vật chưa phân biệt được hổ hay lợn nên lợn con còn bú được hổ thì nói gì đến chuyện “khắc”. Hay tuổn Mậu Dần thuộc mệnh thổ (đất tường thành) với tuổi Kỷ Hợi mệnh Mộc (cây đồng bằng) thì không những không khắc thậm chí có khi còn tốt…

Do đó, không thể cứ lấy con vật (năm sinh) để tính mà phải tính theo can chi và hành của năm, thậm chí còn phải tính phương hướng khi sinh, cha mẹ đôi bên… mới được.

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Đồng hành cần đồng vị

Cùng quan điểm này, GS.TSKH Hoàng Tuấn, Giám đốc Trung tâm Unessco, tác giả cuốn sách “tử vi môn khoa học vận số đời người” cảnh báo: Chẳng có gì đảm bảo chính xác, nhất là khi được phán bởi những thấy kém hiểu biết về khoa học và hù dọa để kiếm tiền.

Theo đại cương về tử vi “đồng hành” là có chung một hành thì tốt. Nhưng đi sâu vào từng trường hợp thì “đồng hành” lại phải thêm “đồng vị”, “đồng tính” mới có thể chung sống và phát triển.

Trái lại đồng hành nhưng không đồng vị, không đồng tính, có khi lại hại nhau. Như hai cực của một nam châm, khác dấu mới hút nhau, đồng dấu đẩy nhau. Chẳng hạn, tuổi Mậu Thìn là đại lâm mộc (cây rừng lớn) với Quý Mùi (dương liễu mộc) xét về tuổi là không xung, lại cùng đồng hành mộc nhưng lại khó chung sống với nhau vì như loại tre trúc cỏ lau, khó chung sống với cây rừng lớn. Trong thực tế ta cũng thấy rõ điều này: Chỗ nào mà che nứa mọc thành đám, thành rừng thì các loại cây khác (kể cả cây lớn) khó mọc chung. Đó là trường hợp “lưỡng mộc – mộc chiết” mà khoa tử vi đã tổng kết.

Trong xung có khắc và ngược lại - hình minh họa
Trong xung có khắc và ngược lại – hình minh họa

Tương tự đối với Hỏa, có khi “lưỡng hỏa thành viêm”: Hai Hỏa thành đám cháy như Thiên thượng hỏa và Sơn dầu Hỏa có thể gây nên cháy rừng lớn nhưng trái lại cùng hành Hỏa nhưng lại diệt nhau thành “lưỡng hỏa hỏa diệt như Tích lịch hỏa (lửa sấm sét) đánh vào Phúc đăng hỏa (lửa ngọn đèn) thì hỏa ở đây phải tắt. Đối với kim, với thủy, với thổ cũng thế.

Hơn nữa, về hai quá trình “sinh – khắc” cũng rất động như trong thực tế cuộc sống chứ không một chiều. Trong sinh có khắc, trong khắc có sinh, không thể phán xét  một chiều.

Chẳng hạn, trên nguyên tắc là Thủy khắc Hỏa, nhưng Thủy nhỏ không thể khắc được Hỏa lớn, có khi còn bị Hỏa làm cho khô kiệt. Cũng có khi Thủy – Hỏa tương giao, tạo nên cái thủy hữu dụng, như lửa trong bếp có thể đun sôi nước nấu cơm. Còn như Tích lịch hỏa (lửa sấm sét) hay Thiên thượng hỏa (lửa trên trời) thì Thủy không thể lên đó mà khắc được. Cũng như Sơn dầu Hỏa (lửa trên đỉnh núi) thì nước dưới khe (giản hạ thủy) khó lên đó mà khắc nhưng nước trên trời (Thiên thượng thủy) – tức nước mưa – lại có thể dập tắt ngay Sơn dầu hỏa.

Về quá trình “tương sinh” thì Thủy tuy sinh ra Mộc nhưng Thủy quá lớn có thể làm chết mộc, làm mất mùa màng. Cho nên, tạo hóa không bao giờ một chiều, mà trong “sinh lại có khắc”; “Trong khắc có sinh” để điều hòa nhau. Đối với Hỏa cũng thế. Hỏa nhỏ không thể khắc được Kim mạnh, cũng không thể sinh được Thổ mạnh. Hỏa ngọn đèn không thể rèn nên dao kiếm càng không khắc chế được Hải trung kim. Có khi kim phải nhờ hỏa chế mới thành khí, như Kiếm phong kim phải nhờ Lô trung hỏa chế. Nhưng hỏa yếu cũng không thể khắc được Kim mạnh hay Kim ẩn trong cát (Sa trung Kim) hay Kim dưới đáy biển (Hải trung Kim). Những loại kim này phải có Tích lịch Hỏa (lửa sấm sét) mới có thể khắc được.

Đối với Mộc cũng không khác. Tuy Mộc khắc được thổ nhưng Đại Lâm Mộc không thể mọc trên Sa trung Thổ; Mộc tươi ướt cũng không thể sinh được hỏa. Đối với Kim thì Kim yếu không thể khắc được Mộc mạnh, như chiếc liềm, chiếc hái không thể chặt được gỗ cứng, có khi còn bị sứt mẻ hay biến dạng. Nhưng đối với các loại Mộc yểu như các loại lau, sậy thì chúng cắt được dễ dàng. Còn Kim của đao kiếm thì có thể chặt được Mộc lớn dễ dàng. Nhiều trường hợp Kim, Mộc tương hỗ để trở thành hữu dụng như chiếc cưa, chiếc đục có thể biến một khúc gỗ thô thành những vật dụng có giá trị.

Đến lượt Thổ cũng không thể ra ngoài quan hệ “sung” – khắc trên. Đại trạch thổ, Thành đầu thổ có thể “khắc” Thủy ngăn nước lũ, nước lụt nhưng Sa trung thổ thì dễ bị thủy hòa tan, thổ yếu không thể khắc được Thủy mạnh, có khi lại bị cuốn trôi. Thổ lại phải nhờ thủy mà trở thành hữu dụng, mùa màng mới phát triển, nuôi sống được con người và vạn vật.

Điều đó chứng minh, không thể căn cứ vào xung – khắc để phán xét, cấm đoán. Mối quan hệ tương sinh, tương khắc là sự ràng buộc lẫn nhau, chuyển hóa lẫn nhau để tồn tại và phát triển hài hòa, để hạn chế cái thái quá và cái bất cập, không phải là sự loại bỏ lẫn nhau. Đó là hai mặt của mỗi vấn đề, như cổ nhân đã nói “tương phản nhị bất khả tương vô” – trái nhau nhưng không thể không có nhau. Vì vậy, chớ nên vì mê tín, nghe theo sự phán đoán thiếu chính xác, chưa đầy đủ mà làm ảnh hưởng đến hạnh phúc lứa đôi hay sự làm ăn của chính mình.

– Thiên can hợp: Giáp (dương) hợp Kỷ (âm), Đinh (âm) hợp Nhâm (dương), Ất (âm) hợp Canh (dương), Mậu (dương) hợp Quý (âm), Bính (dương) hợp Tân (âm).
– Thiên can xung: Theo cơ chế đồng khí và ngũ hành tương khắc như Giáp xung Mậu (cùng là Can dương) – Mộc khắc Thổ;  Ất xung Kỷ (cùng là Can âm) – Mộc khắc Thổ; Bính xung Canh (cùng là Can dương) – Hỏa khắc Kim; Đinh xung Tân (cùng là Can âm) – Hỏa khắc Kim; Mậu xung Nhâm (cùng can Dương) – Thổ khắc Thủy; Kỷ xung Quý (cùng Can âm) – Thổ khắc Thủy; Canh xung Giáp (cùng Can dương) – Kim khắc Mộc; Tân xung Ất (cùng Can âm) – Kim khắc Mộc; Nhâm xung Bính (cùng Can dương) – Thủy khắc Hỏa; Quý xung Đinh (cùng Can âm) – Thủy khắc Hỏa.

(còn tiếp)
Thúy Nga

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: